Những khoản ngoại trừ "to đùng"
Phát
biểu tại buổi tọa đàm về sai sót thường gặp qua kiểm soát chất lượng
kiểm toán thường niên năm 2011, ông Bùi Văn Mai, Phó Chủ tịch thường
trực kiêm Tổng thư ký Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) cho
biết, trong quá trình kiểm tra, ông đã phát hiện có trường hợp một Báo
cáo kiểm toán tại một công ty đóng tàu thuộc Vinashin đã ngoại trừ khoản
mục hàng tồn kho. Theo ông Mai, chỉ dùng phép cộng trừ đơn thuần, ước
tính giá trị hàng tồn kho bao gồm cả tài sản cố định, nguyên vật liệu,
sản phẩm dở dang… của công ty này đã chiếm 70- 80% tổng tài sản. "Một
khoản ngoại trừ hàng tồn kho lên tới 80% giá trị tài sản thì phần 20 -
30% giá trị còn lại, cho dù có là trung thực, hợp lý đi nữa thì làm sao
có thể đảm bảo chất lượng báo cáo kiểm toán được?", ông Mai nhận xét.
Lý
giải tình trạng này, ông Mai cho rằng, có hai nguyên nhân chủ yếu: một
là, thời điểm ký hợp đồng kiểm toán diễn ra sau ngày kiểm kê hàng tồn
kho của DN; hai là, DN có nhiều kho ở nhiều nơi, giá trị hàng tồn kho
lớn mà yêu cầu kiểm tra trong vòng 1, 2 ngày. Và đây thực sự là thách
thức lớn đối với công ty kiểm toán (CTKT).
"Làm sạch" nợ xấu
Không
chỉ hàng tồn kho là đối tượng dễ bị ngoại trừ, các khoản cho vay, khoản
phải thu đôi khi cũng được kiểm toán chấp nhận dù còn thiếu căn cứ.
"Bình thường, quy trình xác định khả năng thu hồi của khoản phải thu của
DN phải rất cẩn trọng. Ví dụ, kiểm toán chọn ngẫu nhiên 30/100 đối
tượng để gửi thư xác nhận nợ. Nếu cả 30 đối tượng trên đều có thông tin
phản hồi là đúng thì kiểm toán có thể chấp nhận được. Nhưng giả thiết có
3 trong số 30 đối tượng trên cho phản hồi là sai, thì kiểm toán viên
lại phải chọn tiếp ngẫu nhiên 30 đối tượng khác để lấy ý kiến và làm lại
quy trình trên, để xác định đúng nợ phải thu của DN", ông Mai cho biết.
Theo ông Mai, tình trạng các kiểm toán viên không gửi thư xác nhận hoặc
gửi nhưng không tổng hợp kết quả xác nhận, mà dễ dàng chấp nhận nợ phải
thu theo sổ sách của doanh nghiệp là có.
Điều
này khiến cho chúng ta liên tưởng đến các khoản nợ phải thu của nhóm
CTCK có thể tồn đọng nhiều năm, thậm chí lên tới hàng nghìn tỷ đồng,
nhưng vẫn không có khoản trích lập dự phòng nào (dù thực tế là khó thu
hồi). Hay nợ phải thu của người có liên quan như: cổ đông lớn, cổ đông
nội bộ, lãnh đạo DN… nhưng không được kiểm toán lưu ý. Chính việc vô
tình hoặc cố tình bỏ qua khâu xác nhận nợ phải thu và khả năng thu hồi
nợ đã khiến người sử dụng BCTC có cái nhìn không chính xác về thực trạng
tài chính của DN. Phản biện những BCTC có vấn đề này chỉ có thể hy vọng
vào năng lực và đạo đức của người làm kiểm toán, đơn vị độc lập duy
nhất được tiếp cận chính xác tới giấy tờ của DN, chứ không phải là ai
khác.
Báo cáo kiểm toán… "thế mạng"
Dùng
từ "thế mạng" ở đây có thể không chuẩn lắm, nhưng có lẽ sẽ giúp người
đọc hình dung ra những báo cáo kiểm toán đang được lập nhằm mục đích làm
đẹp và thay thế báo cáo kiểm toán "xấu xí" với nhiều khoản ngoại trừ
của DN đã được lập bởi một CTKT khác. Bà Lê Thị Hòa, Vụ phó Vụ Quản lý
Phát hành, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) cho biết, UBCK đã phát
hiện được trường hợp một CTKT thuộc nhóm big 4, big 5 (nhóm 4, 5 CTKT lớn nhất) tham gia vào hoạt động trên.
"Có
trường hợp DN kiểm toán ra báo cáo lần đầu có nhiều điểm ngoại trừ, đã
thuê một CTKT khác làm lại, với báo cáo chấp nhận toàn phần. Điều này là
không thể chấp nhận được. Các bạn nghĩ rằng, nếu DN ỉm đi báo cáo kiểm
toán lần đầu và làm kiểm toán lại thì sẽ không ai biết, nhưng nếu trong
quá trình rà soát lại, chuyện đó lộ ra thì uy tín của các bạn sẽ như thế
nào?" bà Hòa đặt câu hỏi với đại diện các CTKT. Theo bà Hòa, thời gian
tới, UBCK sẽ xem xét lại toàn bộ và có biện pháp xử lý nghiêm những CTKT
đưa ra ý kiến kiểm toán không trung thực.
"Không
có khái niệm nhanh, nhiều, tốt, rẻ trong kiểm toán", ông Mai nhận xét
trong nhiều sai sót hiện nay có phần do mức phí kiểm toán quá thấp,
không đủ bù đắp chi phí nếu tuân thủ 100% thủ tục kiểm toán (chỉ từ 30 -
70 triệu đồng/DN). Để ra được một báo cáo kiểm toán của DN lớn hay nhỏ,
kiểm toán viên đều phải tuân theo một quy trình chuẩn - một khối lượng
công việc rất lớn. Theo nhiều ý kiến, trong bối cảnh báo cáo kiểm toán
vẫn có sự mập mờ về chất lượng mà chưa có sự xử lý nghiêm minh từ cơ
quan quản lý, người sử dụng BCTC không nên đặt cả niềm tin vào những
BCTC đã được kiểm toán, mà phải tìm hiểu thật kỹ về tình hình thực tế
của doanh nghiệp.